top

Danh mục sản phẩm

OVA GROW Plus

OVA GROW Plus
  • MS: 498 Lượt xem Lượt xem: 93
  • Giá: Liên hệ
  • Quy cách: Hộp 2 vỉ x 15 viên
  • Hãng SX: NutriSpain SL
  • Xuất xứ: Tây Ban Nha
  • Tình trạng: Còn hàng
Chi tiết sản phẩm

OVA GROW Plus

OVA GROW Plus
Mang thiên chức làm mẹ gần hơn tới bạn
THÀNH PHẦN
Mỗi viên nang cứng có chứa:
Myo – inositol: …………………….. 200 mg
Vitamin E: ………………………… 26,7 mg
L – Arginine: ………………...……… 15 mg
D – chiro – inositol: ……………..…… 5 mg
Melatonin: …………………….…… 0,5 mg
Acid folic: ………………………... 400 mcg
Vitamin D: ……………………..….. 500 UI
CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA OVAGROW PLUS VỚI HỆ THỐNG SINH SẢN NỮ GIỚI
Myo – Inositol & D – chiro – inositol
- Inositol là các phân tử đa diện đóng vai trò cơ bản trong nhiều chức năng của tế bào. Myo – Inositol (MI) và D – chiro – inositol (DCI) là hai đồng phân lập thể của một vòng sáu carbon cyclitol và MI là tiền chất của DCI và được phân bố rộng rãi nhất trong tự nhiên. Inositol có thể hiện diện trong tế bào theo những cách khác nhau: kết hợp trong phospholipid màng dưới dạng phosphoinositides và ở dạng inositol phosphoglycan (IPG) nằm trong màng tế bào chất, có liên quan đến tín hiệu dẫn truyền insulin như là sứ giả thứ cấp. Vai trò của phosphoinositides đã được biết đến từ lâu. Chúng là các yếu tố cơ bản của màng tế bào, nơi inositol kết hợp với cytidine diphosphate diacylglycerol để tạo thành phosphatidylinositol (PtdIns), một thành phần cơ bản của màng tế bào. Inositol tham gia vào con đường tín hiệu phosphoinositides và đóng một vai trò quan trọng trong nhiều chức năng tế bào phosphatidylinositol 4P (PtlIns – 4P) và phosphatidylinositol 4,5 biphosphate (PtdIns 4,5P) được nghiên cứu nhiều nhất. Hai sứ giả nội bào quan trọng thứ hai, diacylglycerol (DAG) và inositol – triphosphate (Ins 1,4,5 – P), được sản xuất từ PtdIns 4,5P. Ins 1,4,5 – P liên kết với các kênh Ca 2+ trong lưới nội chất thô ráp, kích thích giải phóng Ca 2+ nội bào và sau đó tạo ra nhiều hiệu ứng nội bào liên quan. Sự gia tăng nồng độ Ca 2+ trong tế bào đóng một vai trò quan trọng trong sự trưởng thành của tế bào trứng, sự thụ tinh và sự phát triển của phôi. Cơ chế giải phóng canxi nội bào được điều chỉnh trong quá trình trưởng thành của tế bào trứng, đặc biệt là trong giai đoạn cuối của quá trình trưởng thành tế bào trứng. Vì tất cả những lý do này, MI có liên quan đến tín hiệu con đường phosphoinositides và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình thụ tinh tế bào trứng.
- Một khía cạnh quan trọng khác của inositol là vai trò của chúng như chất nhạy cảm với insulin. Ở dạng IPG, chúng có thể kích hoạt các đường dẫn truyền tín  hiệu insulin. IPG liên kết insulin với G – protein để tạo ra một thụ thể kết hợp để hoạt động như một chất truyền tin thứ cấp, đó là DCI – phosphoglycan, cho phép kích hoạt glycogen synthase trực tiếp và gián tiếp thông qua phosphatidylinositol 3 – kinase (PIK 3).
- Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: ở những bệnh nhân kháng insulin, chẳng hạn như bệnh nhân PCOS, sử dụng DCI, MI, MI kết hợp với DCI có thể cải thiện tình trạng kháng insulin, các thông số chuyển hóa, chu kỳ đều đặn và rụng trứng tự phát phù hợp với insulin – tác dụng nhạy cảm của DCI và vai trò của MI trong quá trình trưởng thành của tế bào trứng.
Melatonin
Các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng: việc bổ sung melatonin trong nuôi cấy tế bào trứng của chuột dẫn đến 54% tế bào trứng thụ tinh đạt đến giai đoạn phôi nang so với 29% không có melatonin. Các tác giả khác đã nghiên cứu nuôi cấy tế bào trứng lợn và nhận thấy rằng: việc thêm melatonin vào môi trường nuôi cấy tế bào trứng tạo ra mức oxy hóa thấp hơn đáng kể và tỉ lệ tế bào trứng trưởng thành lớn hơn. Bằng chứng gần đây cho thấy rằng nồng độ melatonin trong nuôi cấy tế bào trứng nên nằm trong khoảng hẹp giữa 10 – 6 và 10 – 9 nM để đạt được kết quả tốt nhất.
Một số tác giả nhận thấy rằng việc bổ sung melatonin ở người với liều lượng thấp đã cải thiện sự trưởng thành của nhân noãn bào, và ngược lại, sự trưởng thành của nhân giảm được quan sát thấy với liều lượng cao [38]. Phạm vi từ 10 – 5 đến 10 – 9 nM đã cải thiện sự trưởng thành của tế bào trứng khi được bổ sung vào quá trình trưởng thành tế bào trứng trong ống nghiệm (IVM), và nó làm tăng tỷ lệ cấy trong IVF – ET, làm tăng tỉ lệ có thai ở phụ nữ bị PCOS. Ngoài ra, cho thấy rằng uống melatonin làm tăng nồng độ melatonin trong nang noãn, và nồng độ cao hơn này có liên quan nghịch với stress oxy hóa tế bào được đo bằng mức 8 – OhdG.
L – Arginine
L – Arginine giúp tăng cường sinh lý bằng cách làm tăng lượng máu đến cơ quan sinh dục, tăng nhạy cảm cho các mô ở âm vật, cải thiện chức năng sinh sản và giúp dễ đạt cực khoái hơn. Việc thiếu chất này sẽ làm giảm và rối loạn sự ham muốn. Vì vậy, đây là một chất có lợi cho sức khỏe tình dục của đàn ông cũng như phụ nữ, giữ vai trò chính trong việc điều hòa chức năng tình dục. Nó được xem là một dược phẩm hỗ trợ điều trị rối loạn chức năng tình dục, đặc biệt là liệt dương và lãnh cảm.
Vitamin E
Cải thiện tình trạng loạn kinh nguyệt: các nghiên cứu cho thấy, với nữ giới bị rối loạn kinh nguyệt, thường xuyên đau bụng kinh khi đến kỳ, hoặc phụ nữ bước sang độ tuổi tiền mãn kinh thì việc sử dụng vitamin E là giải pháp hiệu quả giúp cải thiện và giảm bớt các triệu chứng khó chịu do tình trạng rối loạn kinh nguyệt gây ra. Làm tăng độ dày của niêm mạc tử cung: không ít trường hợp vô sinh ở nữ giới được gây ra bởi tình trạng niêm mạc tử cung quá mỏng, khiến trứng không thể làm được ổ sau quá trình thụ thai. Theo đánh giá, vitamin E hỗ trợ sinh sản khi được bổ sung hàm lượng mỗi ngày bằng cách gia tăng lưu lượng máu tại động mạch và làm dày niêm mạc tử cung, đảm bảo khả năng giữ trứng đã thụ tinh.
Vitamin D
Ngày càng nhiều chứng cứ cho thấy tình trạng vitamin D của người mẹ có thể tác động đến kết cục hỗ trợ sinh sản và kết cục thai kỳ. Hiện tại, chưa có nhiều chứng cứ mạnh cho thấy bổ sung vitamin D mang lại lợi ích cho hỗ trợ sinh sản ở người châu Á. Tuy nhiên, việc cung cấp đủ vitamin D trong hỗ trợ sinh sản vẫn được ủng hộ vì lợi ích trong giai đoạn sau, giai đoạn phát triển thai nhi, giúp cải thiện các biến chứng sản khoa và sức khỏe trẻ sơ sinh, đã có đủ chứng cứ.
Acid folic
Acid folic là yếu tố không thể thiếu trong việc giúp cơ thể sản sinh ra hồng cầu. Bởi hồng cầu là nhân tố quan trọng giúp mang oxy từ phổi đến khắp các bộ phận của cơ thể, bổ sung trước lúc có thai hoặc tuần đầu tiên của thai kỳ còn giúp ngăn ngừa dị tật ống thần kinh. Một số nghiên cứu cũng cho thấy: acid folic cũng có thể ngăn ngừa dị tật tim ở đưa trẻ và các dị tật bẩm sinh về miệng là hở môi và vòm miệng.
ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG 
OVAGROW Plus được sử dụng cho những đối tượng bệnh nhân sau
Phụ nữ có chất lượng trứng kém.
Phụ nữ chuẩn bị làm IUI IVF.
Phụ nữ có ý định sinh con tự nhiên.
Phụ nữ bị mắc hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS).
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG
OVAGROW Plus được sử dụng với liều dùng 1 viên/ngày sau bữa ăn chính, có thể tăng liều tới 2 viên/ngày theo tư vấn của chuyên gia hỗ trợ sinh sản. Nên duy trì sử dụng vào những khoảng thời gian cố định trong ngày để đạt được hiệu quả cao nhất kết hợp chế độ ăn uống, tập luyện, nghỉ ngơi khoa học, hợp lý, kiêng rượu bia, thuốc lá và các chất kích thích khác để đạt được hiệu quả cao nhất.
Không sử dụng OVAGROW Plus cho bệnh nhân có bất cứ dị ứng nào với thành phần của sản phẩm, người quá mẫn, người suy gan, thận nặng.
BẢO QUẢN
Nơi khô mát, tránh ánh sáng trực tiếp, để xa tầm tay trẻ em
Lưu ý: sản phẩm không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.
QUY CÁCH ĐÓNG GÓI
Hộp 2 vỉ x 15 viên nang cứng
TIÊU CHUẨN 
GMP EU
SẢN XUẤT BỞI
NutriSpain SL
Pol. Industrial Pla de Rascanya – C/Serra, No 9 – 4160 Lliria, Valencia, Tây Ban Nha.
Visa nhập khẩu số: 7197/2020/ĐKSP
Thương nhân chịu trách nhiệm chất lượng hàng hóa và phân phối sản phẩm
Công ty TNHH MAB VIỆT NAM
34A, ngõ 37 phố Đại Đồng, phường Thanh Trì, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
Hotline: 0984.658.521